Tác dụng làm thuốc của cây đào

20/12/2008 - 12:00 AM
Cây đào là một thực vật dùng làm thuốc nổi tiếng, cả rễ, vỏ, cành, lá, hoa, hột của nó đều có thể làm thuốc được, có công dụng trừ phong hoạt huyết, giảm, đau, lợi tiểu, sát khuẩn. Rễ, cành và vỏ của cây đào sắc lên uống có thể trừ được bệnh nhiệt dạ dày, vàng da do viêm gan, đau nhói vùng tim, đau bụng. Nếu dùng nước sắc đó để tắm, có thể tránh được bệnh truyền nhiễm, nấm ngoài da, sát khuẩn vết thương. Lá đào tươi đun thành nước thuốc hoặc giã nát vắt lấy nước bôi lên vết thương chữa sưng, đau cực kỳ hiệu quả.
Thông thường thì đào thường được dùng lúc tươi hoặc phơi khô, vì nó có tác dụng hoạt huyết, tiêu ứ chậm nên thích hợp dùng cho phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt.

Ngày hè khát nước, táo bón, bao gồm cả chứng táo bón do cơ thể người già hư nhược và ruột khô, những người đau bụng kinh hoặc tắc kinh đều có thể sử dụng. Các thiếu nữ trong giai đoạn đầu khi mới có kinh nguyệt, các kỳ kinh vẫn chưa đều đặn, nên ăn nhiều đào hoặc mứt đào khô, những người đau bụng do ăn nhiều đồ lạnh càng nên sử dụng.

Lấy lá đào non, lá mướp non mỗi thứ một nửa, cứ 50g cho 3g phèn chua, giã nát bôi lên chỗ đau, chuyên dùng để trị mụn nhọt cho trẻ em.

Quả đào đơn tính nhỏ quắt, không hạt gọi là đào nô, tục gọi là đào khô, có tác dụng chữa thổ huyết, vã mồ hôi, trừ bệnh lỵ. Dùng 40-60g đào khô lép màu xanh lục, thêm một bát rưỡi nước, đun to lửa đến khi còn nửa bát, có tác dụng chữa lỵ giảm sốt.

Dùng 9g đào khô lép và 30 cọng lúa nếp, thêm nước sắc đặc uống thay trà, uống liên tục mấy ngày có thể trị bệnh ra mồ hôi trộm.

Những quả đào khô qua mùa đông mà vẫn chưa rụng, sang mùa đào năm sau sẽ trở thành đào thơm. Dân gian có phong tục, vào thời điểm làm trà mới thì hái đào thơm, bỏ mấy quả đào thơm vào chỗ trà mới để dành, có thể sát khuẩn, chống ẩm, tăng thêm mùi thơm, khiến cho màu của lá trà và vị trà giữ được lâu không biến chất.

Một số món ăn bài thuốc dùng đào để chữa bệnh

Cháo hoa đào

Nguyên liệu và cách làm: Cánh hoa đào tươi 4g, gạo tẻ 100g, cả hai thứ trên nấu thành cháo loãng, để ăn, cách ngày làm một lần.

Tác dụng: Nhuận tràng thông tiện, thích hợp trị táo bón.

Rượu cành đào

Nguyên liệu và cách làm: Một nhánh đào, rượu 500ml. Chặt nhỏ nhánh đào ra, cho 500ml rượu vào đun, đun cho đến khi chỉ còn 5ml, dùng ngay.

Tác dụng: Hoạt huyết, thông ứ, chủ yếu để trị đau tim đột ngột.

Hoa đào xào chân giò hun khói

Nguyên liệu và cách làm: Hoa đào tươi 5 bông, tôm nõn 10g, chân giò hun khói 10g, trứng gà 4 quả, gia vị vừa đủ. Ngắt bỏ nhị hoa đào, rút từng cánh hoa ra rửa sạch, vẩy ráo cắt thành sợi nhỏ. Tôm nõn rửa sạch, cho rượu, gia vị vào, hấp chín, cắt nhỏ. Chân giò hun khói, gừng cắt nhỏ. Trứng gà đập vào bát, đánh tan, cho thêm nước dùng gà, mì chính, rượu, gia vị, bột tiêu trắng, đánh đều lên. Đặt chảo lên bếp, đun nóng rồi cho mỡ vào, cho gừng vào phi dậy mùi rồi vớt ra, đổ trứng gà đã cho gia vị vào, dùng muôi đảo, xào chín, đổ ra đĩa rồi rắc sợi hoa đào, tôm nõn, chân giò hun khói lên trên.

Tác dụng: Dùng cho phụ nữ mang thai tiểu tiện không thông.

Trứng gà luộc cành đào

Nguyên liệu và cách làm: Cành đào (cành mới đâm trong năm, còn cuống lá, 0,6-0,9m, khoảng 250g, trứng gà 3 quả. Cành đào chặt từng khúc khoảng 3,5cm, cho vào nồi đất luộc chung với trứng gà trong khoảng 2-3 giờ, đến khi vỏ trứng chuyển sang màu nâu sẫm, lòng trắng trứng có màu vàng nhạt thì thôi. Sáng, trưa, tối mỗi buổi ăn 1 quả, dùng liên tục trong 1-2 tháng thì ngừng.

Tác dụng: Chủ yếu dùng để chữa trị bệnh u cổ tử cung, nhưng cần lưu ý cành đào phải là cành mới mọc trong năm, dùng tay bẻ hoặc mảnh sành chặt đứt, không sử dụng đồ kim loại để luộc.

Các bài thuốc dân gian sử dụng quả đào tươi

Bài 1: Đào tươi 3 quả, gọt bỏ lớp vỏ ngoài, thêm 30g đường phèn, hầm cách thủy đến khi nát ra thì bỏ hạt, mỗi ngày dùng 1 lần. Tác dụng trị ho.

Bài 2: Đào tươi khi ăn gọt vỏ bỏ hạt, mỗi ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần ăn 1-2 quả. Tác dụng chữa tăng huyết áp.

Chú ý: Quả đào tính ôn, nếu ăn nhiều dễ gây trướng bụng, nổi nhọt.


Nguồn: Khoa học và đời sống

Gửi bình luận của bạn (0)
Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp

 
 
 
Mã an toàn:
   =