Đề phòng thai nhi chậm phát triển

21/07/2009 - 12:00 AM
Tất cả những trẻ sinh đủ tháng thể trạng thấp dưới 2500 gam đều bị coi là thời kỳ thai nhi phát triển trì trệ. Những sản nhi này dễ phát sinh các bệnh như viêm phổi, bị chứng bệnh hồng cầu tăng nhiều, đường thấp trong máu, canxi thấp trong máu và thường khi sinh bị ngạt thở. Cho nên tỉ lệ tử vong cao gấp 8 lần những trẻ thể trạng khi sinh ra bình thường.
Nguyên nhân thai nhi phát triển trì trệ trong tử cung phân chia thành 4 mặt:

1. Về mặt phụ nữ có thai: Người phụ nữ có thai dài ngày bị suy dinh dưỡng, bị một số các bệnh bội nhiễm khi mang thai như cao huyết áp, bệnh ở cơ tim mạn tính, bệnh cao huyết áp nguyên phát.

2. Về mặt thai nhi: Song thai hoặc đa thai, cảm nhiễm trong tử cung, như bệnh phong chẩn (rubella), bệnh mụn nước mẩn thành mảng (herpes), bệnh tế bào (CMV)v.v... nhiễm sắc thể khác thường.

3. Về mặt đế cuống rốn: Công năng của đế cuống rốn không toàn vẹn là nguyên nhân chủ yếu, các bệnh khác như đế cuống rốn canxi hoá, ung thư huyết quản đế cuống rốn v.v...

4. Nhân tố di truyền: Chủ yếu là chỉ thể hình của cha mẹ. Trong những nguyên nhân gây bệnh làm cho sự phát triển của thai nhi trong tử cung bị trì trệ, cảm nhiễm do virus, bệnh về nhiễm sắc thể chủ yếu thấy ở trước 32 tuần mang thai. Đối với những trẻ phát triển trì trệ trong tử cung trước thời kỳ giữa mang thai, hễ phát hiện có dị dạng hoặc nhiễm sắc thể khác thường thì tuyệt đối không nên tiếp tục mang thai, cần đến bệnh viện dẫn sản. Nhưng nhân tố để cuống rốn, bệnh bội nhiễm khi mang thai hoặc bệnh nội khoa, nhân tố dinh dưỡng phần nhiều tác dụng ở thời kỳ cuối mang thai. Sự phát triển trì trệ trong tử cung của loại hình này chiếm tuyệt đại đa số. Nhưng có thể dưới sự phối hợp của phụ nữ mang thai, tích cực điều trị bệnh nội khoa, cải thiện công năng của đế cuống rốn, tăng cường dinh dưỡng, tiến hành tuyên truyền giáo dục đối với những phụ nữ có thai có khả năng phát sinh phát triển trì trệ thai nhi trong tử cung loại này, đề phòng phát sinh, từ đó mà giảm thiểu tỉ lệ phát sinh những trẻ phát triển trì trệ trong tử cung loại này.

Đề phòng chứng bệnh này cần bắt đầu từ trước khi người mẹ chuẩn bị mang thai. Như tạm thời ngừng mọi tiếp xúc với chất độc và chất phóng xạ từ 8 đến 10 tháng trước khi dự định có thai. Sau khi có thai cần hết sức tránh cảm nhiễm virus. Từ khi mang thai 3 tháng trở đi cần đặc biệt chú ý đến ăn uống, tăng thêm nhiều các thức ăn có hàm lượng protein, vitamin, chất sắt, chất canxi trong khẩu phần ăn hàng ngày. Không nên sợ thai nhi to, sau khi sinh thể hình khôi phục không tốt hoặc khó sinh mà hạn chế ăn uống đủ chất bồi dưỡng đối với người mang thai. Những phụ nữ có thai bị những bệnh nội khoa và bệnh sưng vú, cần phải tăng thêm thời gian nằm nghỉ trên giường và khi nằm phải chú ý nằm nghiêng về bên trái để tăng thêm lưu lượng máu cho đế cuống rốn, làm cho sự phát dục của thai nhi tốt.

Những năm gần đây ở ta những trẻ sơ sinh bị phát dục trì trệ trong tử cung cũng tương đối nhiều, nhất là ở nông thôn và miền núi. Những trẻ này sau khi sin trong vòng 7 ngày bị bệnh chiếm tới một nửa. Vì vậy, những phụ nữ có thai phải hết sức coi trọng sự phát dục tỷ lệ của thai nhi trong tử cung.

Khóa học dành cho các bà bầu 


Nguồn: ĐSGĐ

Gửi bình luận của bạn (0)
Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp

 
 
 
Mã an toàn:
   =