Chuẩn đoán chứng liệt nửa mặt

15/08/2014 - 02:48 PM
Thể liệt mặt ngoại biên hai bên: vì liệt hai bên nên dấu hiệu cơ bản là sự mất đối xứng hai bên (méo mặt) không còn nửa, khám không kỹ dễ bỏ qua. Phát hiện dựa vào dấu hiệu Charles Bell hai bên. Các động tác nhăn trán, huýt sáo, v.v... không làm được.

Chẩn đoán xác định: chẩn đoán thường là dễ. Chủ yếu dựa vào sự mất đối xứng giữa hai bên mặt qua quan sát và bảo bệnh nhân làm một số động tác của các cơ mặt.

Cần loại trừ một số trường hợp có thể nhầm lẫn với liệt mặt: mất cân đối hai bên mặt bẩm sinh; nhổ nhiều răng một bên, cười nói bị méo bân thiếu răng.

Chẩn đoán vị trí thương tổn: cần xác định rõ liệt mặt trung ương hay liệt mặt ngoại biên.

Liệt mặt trung ương: thương tổn ở nơtron trung ương đi từ vỏ não đến nhân dây VII ở cầu não (không bao gồm nhân).

Liệt mặt ngoại biên: tổn thương nơtron ngoại biên đi từ nhân dây VII đến các nhánh tận.

Liệt dây VII trung ương, nếu bệnh nhân tỉnh táo thì phát hiện không khó. Trong trường hợp hôn mê phải dùng một số nghiệm pháp và quan sát.

Nghiệm pháp Marie và Foix: ấn mạnh hai ngón tay trỏ vào hai góc hàm chũm, bệnh nhân đau và nhăn mặt, nhe răng, sẽ thấy có méo mặt. Lúc bệnh nhân thở, má bên liệt trương lực cơ nhẽo, nên theo nhịp thở, má phập phồng như người thổi lửa.

Chẩn đoán nguyên nhân

Đối với liệt ngoại biên một bên: Trên đường đi từ nhân ở cầu não ra ngoại vi, một cấu trúc nào đó bị thương tổn sẽ gây liệt dây VII ngoại biên.

Thương tổn ở nhân (cầu não)

U cầu não, viêm nhiễm, bệnh mạch máu. Lâm sàng biểu hiện hội chứng Millard Gubler (liệt dây VII ngoại biên thương tổn, liệt nửa người bên lành). Khi tổn thương lan rộng, có thể có triệu chứng tháp hai bên, hội chứng Foville cầu não, v.v... Chụp CLVF, CHT, chụp động mạch sống nền, xét nghiệm dịch não tuỷ sẽ giúp cho chẩn đoán.

Bệnh bại liệt trẻ em (P.A.A) tổn thương ở nhân biểu hiện liệt dây VII ngoại biên, sốt cao từng lúc, có hội chứng màng não. Dịch não tuỷ, thời kì đầu, tế bào tăng 100- 300 mm3. Protein tăng nhẹ, sau 3 tuần tế bào giảm và protein tăng cao 1,5/l. Huyết thanh chẩn đoán P.A.A dương tính, làm 2 lần cách nhau 1 tuần, có động lực kháng thể.

Thương tổn ở góc cầu tiểu não: Nơi đây VII chui ra ở rãnh hành cầu, gần dây VIII và dây V.

Nguyên nhân do : u góc cầu tiểu não (u dây thần kinh VIII): điếc tai kèm liệt dây V, bên có u, liệt nửa người bên kia, dấu hiệu tiểu não cùng bên.

Viêm màng nhện góc tiểu cầu não, cũng cho triệu chứng giống như u, phân biệt bằng chụp X quang.

Chụp X quang tư thế Stenvers, Schüller, Worm Bretton, nếu là u thì ống tại trong to ra ở bên bệnh và bình thường nếu là viêm màng nhện vùng góc cầu.

Chụp động mạch sống nền, chụp CLTT, CHT cho chẩn đoán chính xác.

Thương tổn ở đoạn nền sọ.

Vỡ nền sọ do sang chấn, máu chảy ra lỗ tai, ra mũi, quanh mắt. Phát hiện bằng lâm sàng và X quang sọ.

U độc nền sọ là ung thư vòm mũi lan lên nền sọ. Lâm sàng có 2 giai đoạn: giai đoạn mũi: nghẹt mũi, xỉ mũi ra má; giai đoạn thần kinh: nhức đầu nhiều, liệt các dâu sọ nạo, thường liệt các dây VI (lác ngoài) và dây V (không nhai được), có thể liệt toàn bộ 12 dây sọ não 1/2 bên do ung thư xâm lấn vào nền sọ nên các lỗ để dây thần kinh chui ra, hạch nổi hai bên cổ. Phát hiện bằng khám vòm mũi (khám tai mũi họng) và làm sinh thiết vòm để định rõ loại ung thư. Chụp X quang sọ theo tư thế Hirtz để xem vùng nền sọ.

Các viêm màng não vùng đáy sọ do các nguyên nhân khác nhau, thường là lao màng não. Chẩn đoán bằng xét nghiệm dịch não tuỷ.



Gửi bình luận của bạn (0)
Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp

 
 
 
Mã an toàn:
   =