Chẩn đoán và xét nghiệm bệnh còi xương

22/10/2014 - 01:21 PM
Chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Triệu chứng lâm sàng

Các biểu hiện ở hệ thần kinh:

Trẻ ra mồ hôi nhiều kể cả ban đêm (mồ hôi trộm); Trẻ kích thích khó ngủ, hay giật mình; Rụng tóc gáy (do trẻ ra mồ hôi nhiều); Đối với CX cấp có thể gặp: tiếng thở rít thanh quản, cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn. Có thể co giật do hạ canxi máu; Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, chậm biết bò.

Các biểu hiện ở xương

Thóp chậm liền, bờ thóp mềm, bướu trán, bướu đỉnh; Chậm mọc răng, răng hay bị sâu, răng mọc lộn xộn; Lồng ngực hình gà, chuỗi hạt sườn; Vòng cổ chân, vòng cổ tay, xương chi cong.

Toàn thân: Nếu không được điều trị, trẻ chán ăn, suy dinh dưỡng, da xanh thiếu máu, lách to.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Phosphatase kiềm tăng (bình thường 40 -140UI/I). Phosphatase kiềm về bình thường khi còi xương điều trị khỏi.

Canxi máu: bình thường hoặc giảm (hay gặp trong CX cấp, nếu canxi ion giảm dưới 0,75 mmol/l có thể gây co giật).

Phospho máu: giảm nhẹ.

25 (OH) cholecalciferol giảm dưới 2 nmol/l (bình thường 25 – 105nmol/l).

XQ xương:

Xương chi: Xương mất chất vôi. Đầu xương to bè. Đường cốt hoá nham nhở, lõm. Điểm cốt hoá chậm.

Xương lồng ngực: có hình nút chai.

Điều trị: Nên theo đơn thuốc điều trị của bác sĩ chuyên khoa, vì vitamin D rất dễ bị quá liều gây ngộ độc thần kinh nguy hiểm cho trẻ.



Gửi bình luận của bạn (0)
Lưu ý: Để được bác sĩ trả lời các câu hỏi, độc giả vui lòng gửi vào mục hỏi đáp

 
 
 
Mã an toàn:
   =